Nguyên nhân gây bệnh máu nhiễm mỡ chủ yếu do ăn uống không điều độ, ăn nhiều đạm động vật, chất béo bão hòa, nhiều đường bột, ăn ít hoa quả và lười vận động.

Máu nhiễm mỡ còn được gọi là rối loạn chuyển hóa lipid máu hay mỡ máu cao. Bình thường trong máu có một tỷ lệ mỡ nhất định, được đánh giá bằng chỉ số xét nghiệm cholesterol, triglycerid… Nếu các chỉ số này cao hơn mức cho phép thì gọi là mỡ máu cao. Trong đó, cholesterol cao là chỉ số đặc trưng của bệnh.

Cholesterol trong máu được tạo thành từ một nhóm các chất béo cần thiết cho cơ thể. Những chất béo này được sản xuất trong gan để ổn định màng tế bào và làm cho chúng thấm các chất dinh dưỡng.

Khi lượng cholesterol trong máu vượt quá mức bình thường, bệnh nhân có thể có nguy cơ phát triển xơ vữa động mạch bệnh, làm tăng huyết áp, tắc nghẽn mạch máu đặc biệt mạch máu ở não và mạch vành, làm tăng nguy cơ suy tim, đột quỵ về sau.

Máu nhiễm mỡ thực chất là bệnh rối loạn chuyển hóa Lipid máu. Lipid là một trong 3 chất dinh dưỡng chính của cơ thể bao gồm: Lipid (mỡ), Glucid (chất bột đường) và protein (chất đạm).

Mau-nhiem-moNguyên nhân

Nguyên nhân gây bệnh máu nhiễm mỡ chủ yếu do ăn uống không điều độ, ăn nhiều đạm động vật, chất béo bão hòa, nhiều đường bột, ăn ít hoa quả và lười vận động.

Bên cạnh đó, còn có do di truyền, yếu tố gia đình…

Biểu hiện bệnh ở người trẻ thường thầm kín, hầu như không có triệu chứng. Nhiều người chỉ vô tình phát hiện ra bệnh khi khám định kỳ hoặc thấy huyết áp cao, đau đầu thì đi làm thêm xét nghiệm máu thì đã thấy bị mỡ máu cao. Ở người già thì biểu hiện rõ ràng hơn, có đến 90% là tăng huyết áp, đái tháo đường đi kèm với tăng mỡ máu.

Trong khi đó, nếu phát hiện sớm, có người chỉ cần chỉnh chế độ ăn uống và tập thể dục thường xuyên là tỷ lệ mỡ trong máu gần như trở lại bình thường. Trường hợp không đáp ứng được thì dùng thuốc điều chỉnh. Đây là cả một quá trình lâu dài, vì còn tùy thuộc vào độ nhạy của thuốc, kiêng khem của từng người và không có một liều nhất định.

Chế độ ăn uống cho người bị máu nhiễm mỡ

Nên ăn nhiều loại rau xanh

Ngoài rau xanh, các sản phẩm được làm từ đậu, thịt nạc thăn, nấm hương, mộc nhĩ, hành tây… vì chúng chứa ít cholesteron. Đặc biệt trong rau xanh có rất nhiều chất xơ giúp làm giảm được sự hấp thụ của đường ruột đối với cholesterol. Ngoài ra, những thức ăn có nhiều chất xơ bạn có thể tham khảo như: gạo lứt, các hạt họ đậu, đậu lăng, lúa mạch, rau, trái cây (táo, lê, ổi, mận, cam, bưởi).

Cấp dưới 30% calo/ngày

Chế độ ăn chỉ được cung cấp dưới 30% calo từ chất béo mỗi ngày. Tránh ăn mỡ động vật (mỡ lợn, bơ, mỡ bò…) và kem sữa bò. Những thực phẩm này chứa nhiều chất béo no, những chất rất dễ làm tắc động mạch. Nên chọn loại sữa có hàm lượng chất béo chỉ 1-2%.

Không nên bổ sung đạm trong bữa tối

Bữa tối không nên ăn thức ăn chứa nhiều đạm vì rất khó tiêu hoá, lâu ngày khiến cholesterol đọng trên thành động mạch dẫn đến xơ vữa động mạch. Lượng thịt đỏ (bò, ngựa, trâu, cừu) nên ăn dưới 255 g/tuần.

Ăn nhiều cá

Ăn nhiều cá tăng cường axit béo hệ Omega-3, có tác dụng bảo vệ tim mạch. Cá hồi, cá ngừ, cá mòi, cá trích và cá thu có nhiều axit béo loại này.

Ăn nhạt

Giảm muối góp phần giảm nguy cơ tăng huyết áp và các bệnh tim mạch.

Tránh dùng dầu cọ, dầu dừa

Tránh dùng dầu cọ hay dầu dừa thường có trong kem thực vật để uống với cà phê (coffee creamers, coffee mate), bánh kem, kẹo chocolate… Nên dùng dầu ô liu, dầu cải, dầu ngô, dầu hạt rum, dầu đậu nành và dầu hướng dương. Đây là những loại dầu có tác dụng làm hạ mức cholesterol.

Không ăn bơ, dầu mỡ

Tránh các thức ăn như bơ thực vật dạng thỏi và bánh, bánh nướng lò, thực phẩm nhiều dầu như khoai tây rán, mì ăn liền và các thức ăn nhanh. Vì trong những thức ăn này có axit béo dạng trans, có thể làm tăng lượng cholesterol máu.